Từ một nền kinh tế khan hiếm hàng hóa, lạm phát lên tới 774% vào cuối năm 1986, sau gần 40 năm đổi mới, Việt Nam đã vươn lên trở thành quốc gia đang phát triển có thu nhập trung bình cao, với quy mô GDP vượt mốc 510 tỷ USD.

Theo báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới 40 năm của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII, bối cảnh trước năm 1986 ghi nhận đất nước chịu hậu quả nặng nề của chiến tranh, rơi vào tình trạng khủng hoảng kinh tế – xã hội kéo dài. Cuối thập niên 1970 và đầu thập niên 1980, tình trạng thiếu hụt hàng hóa diễn ra nghiêm trọng, đời sống người dân gặp nhiều khó khăn. Trong 10 năm đầu sau thống nhất, thu nhập bình quân đầu người chỉ đạt 125–200 USD/năm, nằm trong nhóm 20 quốc gia nghèo nhất thế giới. Lạm phát cuối năm 1986 tăng vọt lên mức 774%.
Đại hội Đảng lần thứ VI xác định nguyên nhân chủ yếu của thực trạng trên đến từ những sai lầm trong hoạch định chính sách, chỉ đạo chiến lược và tổ chức thực hiện. Từ năm 1986, Việt Nam chính thức khởi động công cuộc đổi mới. Trong thập kỷ đầu tiên, dù còn chịu tác động của bao vây và cấm vận, nền kinh tế từng bước thoát khỏi khủng hoảng, khắc phục trì trệ, suy thoái và duy trì tốc độ tăng trưởng khá ổn định.
Giai đoạn 1996–2005, đất nước giữ vững ổn định, tiềm lực kinh tế được củng cố. Từ chỗ thiếu hụt hàng hóa, năng lực sản xuất trong nước dần đáp ứng nhu cầu thiết yếu của xã hội. Hoạt động xuất khẩu tăng trưởng, hình thành dự trữ và tạo nền tảng cho tăng trưởng dài hạn.
Trong giai đoạn 2006–2015, Việt Nam chính thức bước vào nhóm quốc gia thu nhập trung bình thấp; môi trường chính trị – xã hội ổn định, hệ thống an sinh được cải thiện. Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân trong 30 năm đầu đổi mới đạt gần 7%/năm. Từ năm 1991 đến 2016, kim ngạch xuất khẩu tăng 60 lần, nhập khẩu tăng 80 lần, phản ánh mức độ mở cửa và hội nhập ngày càng sâu rộng của nền kinh tế.
Từ 2016 đến nay, dù môi trường quốc tế biến động phức tạp, tăng trưởng GDP bình quân vẫn duy trì quanh 6,2%/năm. Quy mô nền kinh tế và thu nhập bình quân đầu người gần như tăng gấp đôi, đạt trên 510 tỷ USD và khoảng 5.000 USD/người, góp phần cải thiện rõ rệt chất lượng sống của người dân.

Song song với tăng trưởng kinh tế, Việt Nam đang triển khai mạnh mẽ cải cách tổ chức bộ máy, sắp xếp hệ thống chính trị, xây dựng mô hình chính quyền ba cấp và tổ chức lại không gian phát triển. Nhiều quyết sách chiến lược được ban hành nhằm tạo động lực cho giai đoạn tăng trưởng mới. Quốc gia tiếp tục giữ vững độc lập, chủ quyền, ổn định chính trị – xã hội, đồng thời đẩy mạnh đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa và đa phương hóa.
Đánh giá tổng thể 40 năm đổi mới, báo cáo khẳng định Việt Nam đã đạt được những thành tựu có ý nghĩa lịch sử. GS Tạ Ngọc Tấn – Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Lý luận Trung ương nhận định, chính ý chí quyết tâm của Đảng, Nhà nước cùng niềm tin của nhân dân là nền tảng giúp đất nước vượt qua nhiều thách thức.
Tuy nhiên, báo cáo cũng chỉ ra những tồn tại như nguy cơ tụt hậu, rủi ro rơi vào bẫy thu nhập trung bình, năng suất lao động và năng lực cạnh tranh còn hạn chế. Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư tiếp tục đặt ra yêu cầu đổi mới mạnh mẽ đối với sản xuất, thương mại và an sinh xã hội.
Nhận thức đột phá về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Một nội dung trọng tâm trong tổng kết 40 năm đổi mới là sự phát triển tư duy lý luận về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Từ Đại hội VI, Đảng đặt vấn đề đổi mới cơ chế kinh tế, khôi phục và phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, vận dụng đầy đủ các quan hệ hàng hóa – tiền tệ. Đại hội VII tiếp tục xác định phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần là chiến lược lâu dài trong thời kỳ quá độ. Đến Đại hội X, nhận thức được thống nhất rằng kinh tế thị trường là thành tựu chung của văn minh nhân loại.
Đại hội XIII khẳng định mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình tổng quát của Việt Nam, hướng tới mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Nền kinh tế đa dạng hình thức sở hữu và thành phần, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế tập thể được củng cố; kinh tế tư nhân trở thành động lực quan trọng; khu vực FDI được khuyến khích phát triển.
Nghị quyết 68 của Bộ Chính trị (5/2025) nhấn mạnh kinh tế tư nhân là một trong những động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia, đồng thời thúc đẩy công nghiệp hóa – hiện đại hóa dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Từ quốc gia nghèo trở thành nước đang phát triển
Sau 40 năm đổi mới, Việt Nam chuyển mình từ một quốc gia nghèo, lạc hậu sang nhóm nước đang phát triển có thu nhập trung bình cao, với vị thế và tiềm lực ngày càng được nâng cao.
Các thị trường vốn, trái phiếu doanh nghiệp dần trở thành kênh huy động vốn hiệu quả. Thị trường chứng khoán, bảo hiểm và bất động sản mở rộng cả về quy mô lẫn chất lượng. Thị trường lao động phát triển, khoa học – công nghệ gắn kết sâu hơn với khu vực và thế giới.
Việt Nam hiện thiết lập quan hệ thương mại với hơn 230 quốc gia và vùng lãnh thổ, ký 17 hiệp định thương mại tự do với hơn 60 đối tác, thu hút mạnh dòng vốn FDI và ODA. Tầng lớp trung lưu mở rộng, chỉ số HDI và chỉ số hạnh phúc tiếp tục cải thiện.
Tuy vậy, thể chế kinh tế vẫn tồn tại những quy định chồng chéo; khu vực kinh tế nhà nước chưa phát huy hết vai trò; kinh tế tư nhân còn thiếu bền vững; khu vực FDI chưa tạo hiệu ứng lan tỏa như kỳ vọng. Mô hình tăng trưởng chưa thực sự dựa vững chắc vào khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Hướng tới tăng trưởng hai con số giai đoạn 2026 – 2030
Trong giai đoạn tới, bối cảnh quốc tế tiếp tục phức tạp, cạnh tranh chiến lược gia tăng, cách mạng công nghiệp 4.0 tác động sâu rộng đến cấu trúc kinh tế toàn cầu.
Mục tiêu đến năm 2030, Việt Nam đạt quy mô GDP 900 tỷ USD, thu nhập bình quân 8.500 USD/người; đến năm 2045, GDP đạt 2.500 tỷ USD, trở thành quốc gia phát triển thu nhập cao.
Định hướng xuyên suốt là tiếp tục đổi mới toàn diện, tái cơ cấu nền kinh tế, xây dựng mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Mục tiêu tăng trưởng hai con số giai đoạn 2026–2030 được đặt ra.
Nhà nước tập trung hoàn thiện pháp luật, ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát; phát triển các động lực tăng trưởng mới như kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn; thu hút FDI có chọn lọc, ưu tiên công nghệ cao; phát triển các tập đoàn tư nhân lớn.
Tinh thần tự cường, đoàn kết và khát vọng phát triển tiếp tục là nền tảng để Việt Nam hướng tới các mốc phát triển 100 năm. Đến năm 2030, mục tiêu miễn viện phí toàn dân từng bước được triển khai.
Nguồn: VnExpress
__________________________________________
CÔNG TY CỔ PHẦN TƯ VẤN ĐẦU TƯ ICWEALTH
Phone: 0905 495 792 (Mr Vũ)
Email: Info@icwealth.vn
Addr: 74 Lý Nhân Tông, Khuê Trung, Cẩm Lệ, Đà Nẵng
Website: www.icwealth.vn
Kênh thông tin của chúng tôi:
– Khoá học Phân Tích Chứng Khoán
– Group Facebook Phân Tích Chứng Khoán
– Group Zalo Phân Tích Chứng Khoán
– Kênh Youtube: Phân Tích Chứng Khoán Channel
– Kênh Tiktok: phantichchungkhoan.net
– Công ty cổ phần tư vấn đầu tư ICWealth

